Văn bản mới ban hành

Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND ngày 01/02/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy định chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long (đính kèm Phụ lục 1Quy định chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long)

Quyết định số 56/QĐ-UBND ngày 09/01/2018 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018. (Đính kèm Phụ lục 1Phụ lục 2)

Nghị quyết số 84/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long phân bổ kế hoạch chi tiết vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Nghị quyết số 83/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long phê duyệt kế hoạch đầu tư công năm 2018 của tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 2757/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 2558/QĐ-UBND ngày 23/10/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc Ban hành Quy chế quản lý, sử dụng phần mềm cập nhật và báo cáo trực tuyến tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.

Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 64/2017/NQ-HĐND ngày 07/07/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long về ban hành Quy định thí điểm chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Công văn 1864/SKHĐT-TH ngày 28/8/2017 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc lấy ý kiến cộng đồng về điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Dự thảo lần 2

Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Quyết định số 1762/QĐ-UBND ngày 9/8/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long. Đính kèm Phụ lục I Phụ lục II

Quyết định số 1038/QĐ-BKHĐT ngày 28/7/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc công bố chuẩn hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đính kèm Phụ lục IPhụ lục II.

Công văn số 635/QLĐT-CS ngày 07/7/2017 của Cục Quản lý Đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư V/v tổ chức thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu

Quyết định số 1262/QĐ-UBND ngày 12/6/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy chế phối hợp trong việc lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 1198/QĐ-UBND ngày 06/6/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết các thủ tục đối với các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước theo cơ chế một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 989/QĐ-UBND ngày 12/5/2017 về việc phê duyệt tiêu chí bình chọn Doanh nghiệp tiêu biểu, Doanh nhân tiêu biểu của tỉnh

Quyết định số 988/QĐ-UBND ngày 12/5/2017 về việc thành lập Ban tư vấn bình chọn Doanh nghiệp tiêu biểu  Doanh nhân tiêu biểu tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 17/QĐ-UBND ngày 08/01/2015 về việc giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2015. Đính kèm: Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3

05/2013/NĐ-CP Nghị định số ngày 09/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

68/2012/NĐ-CP Nghị định số ngày 12/09/2012 của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng

Thư viện ảnh

Liên kết website

 

Thông tin truy cập

Đang xem: 98
Hôm nay: 1989
Trong tuần: 15088
Trong tháng: 41648
Tất cả: 10932681
Kinh tế
Đánh giá tình hình kinh tế Vĩnh Long quý I năm 2018

Quý I năm 2018, tình hình kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực; nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ du lịch, phát triển doanh nghiệp có chiều hướng tích cực, huy động vốn đầu tư phát triển tăng.

Nông nghiệp – thủy sản

Toàn tỉnh đã thu hoạch 54.716/56.109 ha lúa Đông xuân với năng suất ước đạt 6,26 tấn/ha; so cùng vụ năm trước, diện tích gieo trồng giảm 4,88%, năng suất tăng 2,23%; đến nay đã xuống giống được 18.885 ha lúa Hè Thu, giảm 52,1% so với cùng kỳ. Phần lớn giá các sản phẩm cây màu đều ở mức hợp lý, đảm bảo cho người sản xuất có lợi nhuận nên diện tích tăng 2,77% so cùng vụ năm trước, nhất là ở những loại cây có hiệu quả kinh tế cao; trong đó khoai lang tăng 3,64%, rau các loại tăng 3,72%…

Toàn tỉnh hiện có 3.695,5 ha nhãn đang bị nhiễm bệnh chổi rồng và 7.049,5 ha cây lâu năm bị nhiễm các loại dịch hại khác; các loại dịch hại bệnh bị nhiễm với mật số thấp, được phòng trị kịp thời nên các vườn cây vẫn tiếp tục phát triển. Ước sản lượng cây lâu năm thu hoạch trong quý đạt 177 ngàn tấn, tăng 4,62% so với cùng kỳ.

Trong quý không xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, tuy nhiên do giá thấp, người nuôi lỗ nên đàn heo giảm 15,1%; đàn bò tăng 5,7%; đàn gia cầm tăng 2,8% so với cùng kỳ. Giá thu mua cá tra nguyên liệu tăng cao so với cùng kỳ, người nuôi có lãi khá nên nuôi trồng thủy sản phát triển. Diện tích nuôi cá 2.362,4 ha, tăng 33,6 ha so cùng kỳ, trong đó 242,6 ha nuôi cá tra thâm canh, tăng 22 ha và 873 lồng bè đang thả nuôi (trong số 1.349 chiếc lồng bè hiện có) với đối tượng nuôi chủ yếu là cá điêu hồng, rô phi, chim trắng, bông lau, xác sọc, basa… Ước sản lượng thu hoạch thủy sản 28.313 tấn, tăng 14,5% so cùng kỳ.

Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm lãnh đạo. Đến nay, tổng  tiêu chí đạt được ở 89 xã là 1.261, bình quân đạt 14,2 tiêu chí/xã, giảm 0,2 tiêu chí so với cùng kỳ. Đối với 50 xã chưa đạt chuẩn NTM có 32 xã tăng thêm 50 tiêu chí, 18 xã không tăng; đối với 39 xã đã được công nhận đạt chuẩn NTM, có 19 xã đã bị giảm từ 1-5 tiêu chí do rà soát và đánh giá lại theo quy định mới của Thủ tướng Chính phủ.

Công nghiệp, phát triển doanh nghiệp và huy động vốn đầu tư

Sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, người lao động đã quay trở lại làm việc đúng thời gian, các doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu hàng hóa theo hợp đồng tiêu thụ của năm mới nên sản xuất công nghiệp tăng. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I tăng 7,86% so với cùng kỳ, trong đó: ngành khai khoáng giảm 11,23%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,99%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 2,76%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 12,16%. Hầu hết các ngành hàng có mức tăng khá, tuy nhiên do khó khăn về nguồn nguyên liệu hoặc yếu thế cạnh tranh nên một số ngành có mức sản xuất giảm. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp quý I năm 2018 tăng 0,83% so với cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 1,58%; ngoài nhà nước tăng 3,45%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 0,39%.

Từ đầu năm đến ngày 15/3 đã thành lập mới 68 doanh nghiệp, tăng 10 doanh nghiệp so với cùng kỳ, vốn bình quân một doanh nghiệp mới là 7,7 tỷ đồng, tăng 2,9 tỷ đồng so với cùng kỳ. Có 39 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 8 doanh nghiệp so với cùng kỳ; 7 doanh nghiệp giải thể, giảm 06 doanh nghiệp so với cùng kỳ, do doanh nghiệp sắp xếp lại tổ chức, phương án kinh doanh...

Thành lập mới 7 HTX, đến nay toàn tỉnh có 145 HTX và 1 Liên hiệp HTX với 7.826 thành viên, 7.721 lao động; so với quý I/2017, số HTX và Liên hiệp HTX tăng 32,72%, số thành viên tăng 8,65%, số lao động tăng 16,63%. Tổng vốn hoạt động của các HTX và Liên hiệp HTX trên 440,85 tỷ đồng, tăng 31,34% so với quý I/2017, trong đó vốn điều lệ trên 139,06 tỷ đồng, tăng 24,32%.

Tổng số vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn trong quý ước đạt 2.863 tỷ đồng, tăng 6,22% so với cùng kỳ, trong đó, khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 79,15% và tăng 7,03%. Trong quý chỉ có 01 dự án đầu tư trực nước tiếp ngoài (FDI) được cấp phép mới với số vốn đăng ký 0,44 triệu USD; 01 dự án đăng ký bổ sung vốn 61 triệu USD.

Thương mại: Thực hiện tốt các giải pháp bình ổn giá cả thị trường, chống gian lận thương mại; bảo đảm thị trường hàng hoá trong dịp Tết. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,65% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách du lịch theo tour đến tỉnh 32,8 ngàn lượt, tăng 14,3% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 16,6 ngàn lượt, tăng 13,48%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 94 78,42 triệu USD, đạt 18,67% kế hoạch và giảm 12,86% so với cùng kỳ; nhập khẩu 36,97 triệu USD, giảm 24,55%.

Tài chính – ngân hàng: Tổng thu ngân sách 21.557 tỷ đồng, đạt 26,99% dự toán năm, giảm 22,83% so với cùng kỳ; tổng chi ngân sách trên 1.170 tỷ đồng, đạt 14,01% dự toán năm, giảm 8,41% so với cùng kỳ. Số dư nguồn vốn huy động đến cuối quý 30.200 tỷ đồng, tăng 1,74% so với đầu năm; dư nợ cho vay 23.100 tỷ đồng, tăng 1,29% so với đầu năm; nợ xấu 1.200 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu chiếm 5,19% tổng dư nợ, tăng 4,12 điểm % so với đầu năm do một số khoản vay có nguy cơ rủi ro cao chuyển thành nợ xấu./.

Nguyễn Nguyên

Quay lại In bài viết

Các tin liên quan
 Trang đầu    1    2    3    4    5    Trang sau    Trang cuối  

Bản đồ hành chính

Hình liên kết