Văn bản mới ban hành

Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày 12/3/2019 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2019.

Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 26/02/2019 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc phân bổ và giao dự toán chi ngân sách Trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2019 (vốn đầu tư và phát triển).

Quyết định số 1824/QĐ-TTg ngày 25/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Công văn số 4774/UBND-KTTH  ngày 24/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc triển khai Nghị quyết số 145/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020.

Quyết định số 2803/QĐ-UBND ngày 24/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư công năm 2019; Phụ lục đính kèm Quyết định số 2803/QĐ-UBND;

Quyết định số 2802/QĐ-UBND ngày 24/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc điều chỉnh, bổ sung Điều 1 Quyết định số 1561/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2018.

Nghị quyết số 147/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, kỳ họp thứ 10 về kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019 từ nguồn ngân sách tỉnh

Nghị quyết số 146/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, kỳ họp thứ 10 về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 109/NQ-HĐND ngày 06/7/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, kỳ họp thứ 08.

Nghị quyết số 145/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, kỳ họp thứ 10 về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 54/NQ-HĐND ngày 07/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, kỳ họp thứ 05 về việc phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020 từ nguồn ngân sách tỉnh

Công văn 2683/SKHĐT-TH ngày 27/12/2018 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Long v/v phối hợp đăng tải các văn bản, nội dung được HĐND, UBND tỉnh ban hành thuộc lĩnh vực Đầu tư công năm 2018.

Thông tư số 07/2017/TT-BKHĐT ngày 14/12/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định và hướng dẫn một số nội dung tại Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định số 120/2018/NĐCP ngày 13/9/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư công và số 161/2016/NĐ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ về cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND ngày 01/02/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy định chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long (đính kèm Phụ lục 1Quy định chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long)

Quyết định số 56/QĐ-UBND ngày 09/01/2018 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018. (Đính kèm Phụ lục 1Phụ lục 2)

Nghị quyết số 84/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long phân bổ kế hoạch chi tiết vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Nghị quyết số 83/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long phê duyệt kế hoạch đầu tư công năm 2018 của tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 2757/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 2558/QĐ-UBND ngày 23/10/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc Ban hành Quy chế quản lý, sử dụng phần mềm cập nhật và báo cáo trực tuyến tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.

Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 22/8/2017 của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 64/2017/NQ-HĐND ngày 07/07/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long về ban hành Quy định thí điểm chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Công văn 1864/SKHĐT-TH ngày 28/8/2017 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc lấy ý kiến cộng đồng về điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Dự thảo lần 2

Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Quyết định số 1762/QĐ-UBND ngày 9/8/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long. Đính kèm Phụ lục I Phụ lục II

Quyết định số 1038/QĐ-BKHĐT ngày 28/7/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc công bố chuẩn hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đính kèm Phụ lục IPhụ lục II.

Công văn số 635/QLĐT-CS ngày 07/7/2017 của Cục Quản lý Đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư V/v tổ chức thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu

Quyết định số 1262/QĐ-UBND ngày 12/6/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy chế phối hợp trong việc lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 1198/QĐ-UBND ngày 06/6/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết các thủ tục đối với các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước theo cơ chế một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 989/QĐ-UBND ngày 12/5/2017 về việc phê duyệt tiêu chí bình chọn Doanh nghiệp tiêu biểu, Doanh nhân tiêu biểu của tỉnh

Quyết định số 988/QĐ-UBND ngày 12/5/2017 về việc thành lập Ban tư vấn bình chọn Doanh nghiệp tiêu biểu  Doanh nhân tiêu biểu tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 3127/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Long v/v giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2017

Thư viện ảnh

Liên kết website

 

Thông tin truy cập

Đang xem: 5
Hôm nay: 10
Hôm qua: 73
Trong tuần: 229
Trong tháng: 1016
Tất cả: 975095
Kinh tế
Tăng trưởng kinh tế Vĩnh Long năm 2018 đạt gần 6,20%

Năm 2018, kinh tế cả nước có nhiều khởi sắc, kinh tế vĩ mô ổn định, có sự phục hồi và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới; tăng trưởng kinh tế bước đầu gắn với kết quả cơ cấu lại nền kinh tế, nhiều chính sách đổi mới, cải cách trong nước tiếp tục phát huy hiệu quả, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Trong tỉnh, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, triều cường gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân... Nhưng vượt qua khó khăn, kinh tế trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng và đạt mục tiêu đề ra.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2018 ước tăng 6,17% so với năm 2017, cao hơn 0,67 điểm phần trăm so với mục tiêu kế hoạch (tăng 5,5%) và cao hơn 0,55 điểm phần trăm so với mức tăng của năm 2017. Tăng trưởng 6,17% của GRDP năm 2018 là do khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,23%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,01%, đóng góp 1,6 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm.

GRDP bình quân đầu người năm 2018 theo giá hiện hành đạt 44,83 triệu đồng/người, tăng 8,67% so với năm 2017 và vượt mục tiêu kế hoạch năm 2018 đã đề ra (44,5 triệu đồng/người.

Cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2018 tiếp tục có sự chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 33,38% GRDP, giảm 2,18 điểm phần trăm so với năm 2017; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 18,72%, tăng 1,04 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 47,9%, tăng 1,14 điểm phần trăm.

Dịch bệnh được kiểm soát, thị trường tiêu thụ một số sản phẩm khá tốt, cùng với nỗ lực thực hiện chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả, ứng dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật nên sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khả quan. Giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản ước tăng 3,16% so với năm 2017.

Ước gieo trồng 161.855 ha lúa, giảm 4,45% so với năm trước; năng suất bình quân 5,59 tấn/ha, tăng 7,62%; sản lượng thu hoạch 969,2 ngàn tấn, tăng 2,82%; diện tích trồng màu cả năm 57.672 ha, tăng 6,25%. Các loại bệnh hại bị nhiễm với mật số thấp, được chủ động phòng trị kịp thời, nên vườn cây ăn trái vẫn tiếp tục phát triển; toàn tỉnh có 55.464 ha cây lâu năm, tăng 1,97%; trong đó 46.358 ha đang cho sản phẩm, chiếm 83,58%; sản lượng thu hoạch 565,5 ngàn tấn, tăng 2,13%; trong đó trái cây 440,9 ngàn tấn, tăng 2,29%.

Giá hầu hết các sản phẩm chăn nuôi ổn định hoặc tăng so cùng kỳ năm trước, người chăn nuôi yên tâm đầu tư tái đàn, riêng đàn bò có xu hướng giảm. Thời điểm 01/10/2018, đàn bò của tỉnh có 92.881 con, đàn heo có 345,2 ngàn con, đàn gà có 5,29 triệu con, đàn vịt có 3,03 triệu con; so với thời điểm 01/4/2018, đàn bò giảm 0,21%, đàn heo tăng 13,91%, đàn gà tăng 9,33%, đàn vịt tăng 2,68%; so với cùng thời điểm năm trước, đàn bò giảm 1,69%, đàn heo tăng 3,31%, đàn gà tăng 5,15%, đàn vịt tăng 2,87%. Nuôi trồng thủy sản phát triển khá do giá tiêu thụ tăng cao, người nuôi có lãi khá; ước sản lượng thuỷ sản 126.255 tấn, tăng 7,6% so với năm 2017; trong đó thủy sản nuôi trồng 119.443 tấn, tăng 7,84%. Riêng cá tra nuôi thâm canh 80.699 tấn, tăng 11,66%.

Tỉnh tiếp tục chủ động thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng với sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các doanh nghiệp nên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng. Ước chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 tăng 9,52% so với năm 2017; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,62%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 6,45%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 11,6%; công nghiệp khai khoáng giảm 7,99%

Năm 2018, có 293 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 2.754 tỷ đồng; so với năm 2017, tăng 7,33% về doanh nghiệp và 74,41% về vốn đăng ký. Số vốn bình quân một doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 9,4 tỷ đồng, gấp 2,2 lần so với năm 2017. Có 69 doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường, sản xuất kinh doanh không hiệu quả nên phải tạm ngừng hoạt động, tăng 40,82% so với năm trước; 47 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 9,62%.

Ước thực hiện 13.016,4 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển, tăng 9,6% so với năm trước và đạt 100,13% chỉ tiêu năm 2018; trong đó khu vực Nhà nước 3.273 tỷ đồng, chiếm 25,14% tổng vốn và tăng 15,51% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 8.968 tỷ đồng, chiếm 68,9% tổng vốn và tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 775 tỷ đồng, chiếm 5,96% tổng vốn và giảm 10,82%. Riêng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch vốn do Nhà nước địa phương quản lý ước thực hiện 2.616 tỷ đồng, đạt 80,1% kế hoạch, tăng 17,06% so với năm trước và cao hơn cùng kỳ 5,92 điểm phần trăm.

Trong năm 2018, trên địa bàn tỉnh có 07 dự án FDI được cấp phép mới và 01 dự án đăng ký bổ sung vốn với tổng số vốn 88,2 triệu USD. So với năm 2017, số dự án được cấp phép mới tăng 05; số dự án đăng ký bổ sung vốn giảm 01; tổng số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới và đăng ký bổ sung vốn giảm 29,06%.

Trong khu vực dịch vụ, một số ngành có mức tăng khá cao và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 6,02%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,66%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,34%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,37%; giáo dục và đào tạo tăng 6,52%; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội tăng 8,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 7,88%; dịch vụ khác tăng 9,52%…

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước 45.741 tỷ đồng, tăng 11,64% so với năm 2017. Hoạt động xuất khẩu thuận lợi, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm ước 465,6 triệu USD, tăng 5,16% so với năm 2017 và đạt 119,09% kế hoạch năm. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá: Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù tăng 66,61%, sản phẩm mây, tre, cói và thảm tăng 12,01%, giày dép các loại tăng 1,42%, gạo tăng 70,94% về lượng và tăng 86,9% về giá trị... Ước tổng kim ngạch nhập khẩu 184,4 triệu USD, giảm 9,45% so với năm 2017.

Hoạt động du lịch phát triển khá, trong đó du lịch sinh thái miệt vườn được chú trọng. Tổng lượng khách du lịch đến tỉnh ước đạt 128,9 ngàn lượt, tăng 14,04% so với năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 13,34% so với năm 2017; trong đó khách quốc tế 65,2 ngàn lượt, chiếm trên 50% tổng lượng khách và tăng 9,89%.

Thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành nên thu ngân sách đạt mục tiêu đề ra, chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Ước tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 6.038 tỷ đồng, đạt 104,65% dự toán năm và giảm 12,94% so với năm 2017, chủ yếu do nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm mạnh (giảm 32,43% so với năm trước). Tổng chi ngân sách địa phương 7.127 tỷ đồng, đạt 97,29% dự toán năm và tăng 17,71% so với năm 2017; trong đó chi cho đầu tư phát triển 3.185 tỷ đồng, đạt 86,64% dự toán năm và tăng 32,76% so với năm trước.

Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời các chính sách nhằm đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn huy động tăng khá, ước đến cuối năm số dư nguồn vốn huy động 33.550 tỷ đồng, tăng 13,03% so với số đầu năm; dư nợ cho vay 25.050 tỷ đồng, tăng 10,53%. Các tổ chức tín dụng tích cực thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu theo quy định, ước đến cuối năm 2018, nợ xấu trên địa bàn tỉnh còn 740 tỷ đồng, chiếm 2,95% trên tổng dư nợ cho vay, tăng 1,88 điểm phần trăm so với đầu năm.

Bên cạnh những mặt đã đạt được, vần còn không ít khó khăn, thách thức, tập trung ở một số ngành, lĩnh vực:

Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết sản xuất, tiêu thụ giữa doanh nghiệp với nông dân chưa nhiều; chưa hình thành và phát triển được chuỗi giá trị nông sản. Có nhiều mô hình sản xuất hiệu quả nhưng nhân rộng còn khó khăn.

Quy mô sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp còn nhỏ, chưa có nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, máy móc thiết bị hiện đại và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng và tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Tốc độ phát triển, thành lập doanh nghiệp mới còn chậm, doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng, doanh nghiệp giải thể còn nhiều; tình hình sản xuất kinh doanh đối với một số lĩnh vực còn khó khăn.

Cơ cấu các nguồn thu không đạt dự toán, trong đó thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt thấp ảnh hưởng đến dự toán chi ngân sách, nhất là ngân sách cấp huyện. Dư nợ nguồn vốn huy động, dự nợ cho vay tăng chậm hơn năm trước trong khi nợ xấu của các tổ chức tín dụng tăng cao. Triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; một số công trình trọng điểm chậm tiến độ.

Còn một số hợp tác xã hoạt động chưa đúng nguyên tắc của Luật hợp tác xã về góp vốn, trích lập quỹ; củng cố hợp tác xã yếu kém chưa hiệu quả; quy mô hợp tác xã còn nhỏ, vốn ít nên chưa đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh; kiến thức và năng lực quản lý điều hành của Hội đồng quản trị một số hợp tác xã còn yếu; hợp tác xã chưa thực hiện có hiệu quả hoạt động liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác hoặc giữa các hợp tác xã với nhau./.

Nguyễn Nguyên

Quay lại In bài viết

Các tin liên quan
 Trang đầu    1    2    3    4    5    Trang sau    Trang cuối